Tiểu đường (Phần 2)

Tiểu đường (Phần 2)

Biến chứng mãn của bệnh tiểu đường là gì ?

Biến chứng của bệnh tiểu đường có liên quan đến bệnh lý mạch máu, thường là các mạch máu nhỏ như mắt, thận, thần kinh ( bệnh lý mạch máu nhỏ), và các mạh máu lớn ở tim. Bệnh tiểu đường làm gia tăng xơ vữa động mạch ở những mạch máu lớn, ảnh hưởng đến mạch vành tim ( gây đau ngực, nhồi máu cơ tim), đột quị , đau ở phần xa của chi do thiếu máu nuôi ( gây chứng đi lặt cách hồi). Để biết thêm thông tin xin vui lòng xem ở mục Đau ngực và đột quị tim của trang web : bacsigiadinh.com.   

Biến chứng mắt ở bệnh nhân tiểu đường ( bệnh lý võng mạc do tiểu đường) xảy ra ở bệnh nhân bị tiểu đường ít nhất 5 năm. Mạch máu nhỏ đáy mắt bị tổn thương, làm thoát protein và máu vào trong võng mạc. Bệnh lý mạch máu cũng có thể hình thành  phình mạch nhỏ ( vi phình mạc ), và những mạch tân tạo này dễ vỡ có thể gây ra sẹo giác mạc và bóc tách võng mạc, làm giảm thị lực. Điều trị bệnh lý võng mạc do tiểu đường là dùng laser để phá hủy các phình mạch này nhằm ngăn ngừa tái phát.     

Khoảng 50% bệnh nhân bị tiểu đường sẽ bị bệnh lý võng mạc sau 10 năm mắc bệnh và 85% sau 15 năm. Việc kiểm soát đường huyết và huyết áp không tốt sẽ làm nặng thêm bệnh lý võng mạc do tiểu đường. Đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp cũng là một trong những biến chứng thường gặp của bệnh tiểu đường, kết quả của đục thủy tinh thể là người bênh nhìn mờ do đường huyết không được kiểm soát tốt. Người bệnh thường không nhìn rõ mặc dù đeo kính.    

Tổn thương thận do tiểu đường còn gọi là bệnh thận do tiểu đường. Bệnh thận bắt đầu và tiến triển rất thay đổi. Lúc đầu, bệnh lý mạch máu nhỏ ở thận là nguyên nhân làm thoát protein vào trong nước tiểu.         

Về sau, thận không còn khả năng thanh lọc máu nữa. Sự tích tụ nhiều độc chất trong máu cần phải lọc thận nhân tạo. Lọc thận nhân tạo bao gồm việc dùng máy, nhằm đảm bảo chức năng lọc của thận đã bị hư. Ở những bệnh nhân không thể lọc thận được, việc ghép thận cần được xem xét đến.

Tiến triển bệnh thận có thể chậm lại đáng kể bằng việc kiểm soát tốt huyết áp, và lượng đường cao trong máu.       

Thuốc ức chế men chuyển (ACE) hay thuốc ức chế thụ thể angiotensin (ARB), được dùng để điều trị cao huyết áp cũng có lợi ở bệnh nhân bệnh thận do tiểu đường. Tổn thương thần kinh do tiểu đường cũng có thể là do tổn thương những mạch máu nhỏ. Thực ra, do dòng máu đến nuôi dây thần kinh bị giảm sút. Triệu chứng thần kinh do tiểu đường bao gồm : tê , nóng rát, đau ở đầu chi giảm hoặc mất cảm giác ở chân, làm cho người bệnh không còn cảm nhận được khi có tổn thương chân.

Người bệnh phải mang giày mềm, đúng kích cỡ để bảo vệ chân. Khi có tổn thương da cần phải được chăm sóc kịp thời để tránh nhiễm trùng nặng. Do lượng máu nuôi kém, nên tổn thương bàn chân do tiểu đường thường khó chữa khỏi. Đôi khi chỉ cần một chấn thương rất nhỏ ở chân có thể gây ra nhiễm trùng, loét và hoại tử. Lúc này cần phẫu thuật cắt bỏ ngón chân, bàn chân hay bất cứ phần nào khác bị nhiễm trùng.

Tổn thương thần kinh trong bệnh tiểu đường có thể là trầm trọng, gây liệt dương, do giảm dòng máu đến dương vật. Bệnh thần kinh do tiểu đường có thể ảnh hưởng lên dạ dày, ruột gây buồn nôn, sụt cân, tiêu chảy     

Đau do thần kinh trong bệnh tiểu đường có thể đáp ứng với điều trị bằng gabapentin (Neurontin), phenytoin (Dilantin), carbamazepine (Tegretol), desipramine (Norpraminine), amitriptyline (Elavil), hoặc bằng thuốc dán capsaicin ( chiết xuất từ ớt), Neurontin, Dilantin và Tegretol là những loại thuốc được dùng lâu đời để điều trị đau. Elavil và Norpraminine là những loại thuốc dùng để chữa chứng trầm cảm.

Đau trong tổn thương thần kinh do tiểu đường cũng có thể cải thiện rõ rệt nếu đường huyết được kiểm soát tốt. Thuốc mới để điều trị biến chứng trên thần kinh còn đang nghiên cứu.

Điều trị bệnh đái tháo đường như thế ?

Mục tiêu chính của việc điều trị bệnh tiểu đường là kiểm soát tốt mức đường trong máu. Đái tháo đường loại 1 được điều trị bằng insulin, tập luyện và chế độ ăn kiêng cử. Trong bệnh tiểu đường loại 2 phương pháp điều trị đầu tiên là giảm cân, tiết chế và tập thể dục đều đặn. Khi các biện pháp này không thể kiểm soát được đường máu , lúc này mới tính đến chuyện dùng thuốc uống. Nếu dùng thuốc uống vẫn không hiệu quả mới dùng insulin chích.

Tiết chế là biện pháp quan trọng trọng điều trị bệnh tiểu đường, giúp kiểm soát tốt đường máu. Tiết chế là cân bằng dinh dưỡng như ăn ít mỡ, ít cholesterol, và đường đơn. Tổng lượng calo hằng ngày được chia đều trong 3 bữa ăn. Trong 2 năm qua, hiệp hội tiểu đường Hoa Kỳ cho phép dùng một lượng rất ít đường đơn cùng với thức ăn khác. Giảm cân, tập thể dục là phương pháp điều trị tiểu đường quan  trọng. Giảm cân và tập thể dục làm cho cơ thể nhạy cảm với insulin, điều này giúp cho kiểm soát tốt đường máu.

Thuốc dùng điều trị cho bệnh nhân tiểu đường loại 2.

Cảnh báo: tất cả những thông tin liệt kê dưới đây áp dụng cho bệnh nhân không mang thai và cho con bú. Hiện tại, khuyến cáo duy nhất là kiểm tra đường máu bằng chế độ ăn,   tập luyện và dùng insulin. Bạn nên tham khảo bác sĩ của bạn  nếu bạn dùng thuốc hay chuẩn bị mang thai.

Thuốc trị tiểu đường loại 2 giúp:

Tăng tiết insulin từ tuyến tuỵ.

Giảm lượng đường từ gan.

Tăng nhạy cảm của tế bào với insulin.

Giảm hấp thu carbohydrate ở ruột.

Sự kết hợp nhiều thuốc trị tiểu đường khác nhau chỉ dùng cho việc điều chỉnh đường huyết tăng cao một cách bất thường. Cũng như danh sách các thuốc điều trị tiểu đường liên tục được mở rộng. Không có người bệnh tiểu đường loại 2  nào hưởng lợi từ bất kỳ loại thuốc nào, và cũng không có loại thuốc nào phù hợp cho tất cả bệnh nhân bị tiểu đường.

Bệnh nhân tiểu đường loại 2  nên hợp tác chặt chẻ với bác sĩ của mình, và gặp riêng bác sĩ nếu cần để bác sĩ có những lời khuyên tốt cho sức khoẻ, giảm thiểu các nguy cơ do tiểu đường gây ra.

Người bệnh đừng bao giờ quên tầm quan trọng của chế độ ăn uống kiêng khem và tập thể dục nhằm kiểm soát tốt bệnh tiểu đường, có lối sống khoẻ mạnh mà không cần dùng đến thuốc điều trị tiểu đường.

Các loại thuốc làm tăng phóng thích insulin từ tuỵ gồm : Sulfonylureas và Meglitinides

Sulfonylureas : về mặt lịch sử, thuốc làm tăng sản xuất insulin từ tuyến tuỵ là mục tiêu trong điều trị đái tháo đường loại 2. Thuốc này thuộc nhóm sulfonulureas. Sulfonylureas làm giảm lượng đường trong máu bằng cách kích thích tuyến tuỵ tăng phóng thích insulin  Thuốc thuộc nhóm này là  chlorpropamide và tolbutamide, thuốc thế hệ mới là Glyburide (DiaBeta), glipizide (Glucotrol), và glimepiride (Amaryl). Các thuốc này có tác dụng làm hạ đường nhanh nên có nguy cơ làm hạ đường huyết. Thuốc này không dùng cho bệnh nhân bị dị ứng với nhóm sulfa.

Meglitinides: là loại thuốc mới được sử dụng trong bệnh tiểu đường loại 2, thuốc có tác dụng kích thích tuyến tuỵ phóng thích insuilin. Không giống như sulfonylureas, là kích thích tế bào tuyến tuỵ bằng cách gắng với thụ thể tiết insulin, còn meglitinides có tác dụng trên kênh Kali bề mắt tế bào. Repaglinide (Prandin) và nateglinide (Starlix), là những thuốc có tác dụng nhanh, thuốc được uống trước bữa ăn 30 phút. Không giống như sulfonylureas, thuốc này có tác dụng kéo dài, còn Prandin và Starlix  có tác dụng rất  nhanh  với đỉnh điểm tác dụng trong vòng 1 giờ.

Vì vậy, thuốc được uống 3 lần mỗi ngày trước bữa ăn. Mặt khác, thuốc này cũng làm tăng lượng insulin lưu hành trong máu, vì vậy làm hạ đường máu. Nhưng theo y văn, còn nghi nghờ là thuốc gây hạ đường huyết thường không mạnh bằng sulfonylureas.

Trong 3 tháng nghiên cứu,  Prandin dạng nhỏ giọt có tác dụng hạ đường huyết nhanh có trị số là 64 mg/dl, sau khi ăn đường huyết là 100 mg/ dl. Bởi vì Prandin có tác dụng ngắn, và uống trước bữa ăn nên nó đặc biệt có lợi trong trường hợp đường máu thấp sau ăn và nó không có xu hướng làm hạ đường huyết.  Prandin có thể được sử dụng kết hợp với các thuốc khác như Glucophage cho kết quả rất ngoạn mục. T

rong 83 bệnh nhân bị tiểu đường loại 2, lượng đường trong máu được cải thiện một cách rõ rệt khi kết hợp Prandin với Glucophage.

Prandin không tương tác với các thuốc khác. Bạn nên cho bác sĩ  biết các loại thuốc mà bạn đang dùng trước khi ban được cho dùng Prandin. Liều khởi đầu là 0,5 mg trước mỗi bữa ăn, và có thể tăng đến 4 mg. Liều tối đa hằng ngày là 16 mg. Thuốc này nên sử dụng thận trong trong trường hợp bạn bị suy thận, hay suy gan. Vì Prandin làm tăng insulin trong máu, nên có nguy cơ làm hạ đường huyết quá mức, lúc này làm người bệnh vã mồ hôi, run tay, lú lẫn đôi khi mê man nếu hạ đường huyết nặng và kéo dài.

Thêm vào đó, việc dùng Prandin có thể gây đau đầu, đau cơ, nhức khớp, viêm xoang ở một số người. Thuốc này không dùng cho phụ nữ mang thai, hay cho con bú. Cần điều chỉnh liều thuốc ở người già, vì những người này tốc độ chuyển hóa và thải trừ của thuốc chậm

Starlix cũng có tác dụng phụ và tương tác thuốc như  Prandin. Nhưng lợi ích chính của Starlix là thuốc này dùng liều khởi đầu 120mg mà không cần điều chỉnh liều tăng thêm . Thuốc này dùng tương đối an toàn ở bệnh nhân bị suy chức năng thận.

Các thuốc có tác dụng làm giảm sản xuất glucose từ gan

Thuốc thuộc nhóm này là biguanides đã được sử dụng vài năm gần đây ở Châu Âu và Canada. Năm 1994, FDA  chấp nhận cho sử dụng metformin (Glucophage) trong điều trị tiểu đường loại 2 ở Mỹ. Glucophage là thuốc duy nhất trong nhóm đó có khả năng làm giảm sự sản xuất đường từ gan. Tóm lại, vì metformin không làm tăng insulin nên khi dùng một mình thường không gây hạ đường huyết.

Mặt khác  metformin còn có tác dụng giảm ngon miệng, nên người bệnh bớt ăn cũng giúp cho ổn định đường huyết. Metformin có thể dùng một mình hoặc kết hợp với thuốc hạ đường huyết uống khác hoặc insulin. Thuốc này không dùng cho bệnh nhân bị suy thận, tuy nhiên có thể dùng được ở bệnh nhân bị suy gan nhưng phải thận trọng.

Thuốc có thể gây tăng acid lactic là kết quả của sự tích tụ thuốc và các chất chuyển hoá của nó. Metformin an toàn, là thuốc được khuyên dùng không cần liên tục trong 24 giờ trước bất kỳ thủ thuật nào. Thuốc có thể làm suy thận do tích tụ thuốc trong máu. Metformin có thể dùng lại khi các bệnh này trở về bình thường.

Các thuốc làm cho tế bào tăng nhạy cảm với insulin

Hiện nay tại Mỹ, thuốc được biết đến thuộc nhóm này là  thiazolidinediones, thuốc có tác dụng hạ đường huyết bằng cách làm tăng đáp ứng của tế bào đích đối với insulin( tức là làm tăng nhạy cảm của tế bào đối với insulin). Troglitazone (Rezulin) là thuốc đầu tiên thuộc nhóm này. Bởi vì thuốc này có tác dụng rất độc cho gan nên người ta cấm dùng troglitazone. Vì vậy, thuốc này không được bán trên thị trường. Các thuốc thuộc dòng họ này tỏ ra an toàn là pioglitazone (Actos) và rosiglitazone (Avandia).

Pioglitazone (Actos)  và Rosiglitazone (Avandia) là loại thiazolidinediones mới, được cho phép sử dụng tại Mỹ. Cả Avandia và Actos  có tác dụng làm tăng tính nhạy cảm của tế bào với insulin. Đó là những tế bào cơ và tế bào mỡ. Những thuốc này có tác dụng làm giảm đường máu ở bệnh nhân tiểu đường loại 2. Actos  và Avandia có tác dụng trong vòng 1 giờ sau khi uống. Điều quan trọng là sau khi uống 6 tuần phải thử máu lại, dùng thuốc tối đa là 12 tuần . Actos và Avandia  được chọn đầu tiên trong điều trị bệnh tiểu đường hoặc dùng kết hợp.

Bác sĩ khuyên dùng thuốc này 3 lần mỗi ngày, dùng trong bữa ăn. Liều từ 25 mg đến 100 mg mỗi lần. Liều tối đa mỗi ngày là 100 mg, ba lần mỗi ngày. Dùng liều cao hơn có thể gây ra suy gan có hồi phục. Do cơ chế tác dụng của thuốc, nên có thể xảy ra một số tác dụng phụ trên dạ dày-ruột như : đau bụng, ỉa chảy, đầy hơi thường gặp trên 75% bệnh nhân. Vì vậy, bác sĩ khuyên bắt đầu từ liều thấp, sau đó tăng dần lên trong vài tuần, tùy theo dung nạp của người bệnh. Đa số triệu chứng phụ ở dạ dày- ruột biến mất trong vài tuần, mặc dù ở một số bệnh nhân triệu chứng phụ vẫn còn, lúc này cần phải ngưng thuốc, nếu như người bệnh không còn dung nạp được nữa.

Theo BSGĐ
 

© Copy right 2008 thuocvasuckhoe.com

Design By: ASEAN Việt Nam

Các thông tin trên thuocvasuckhoe.com chỉ mang tính chất tham khảo, khi dùng thuốc phải tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn của Bác sỹ.
Chúng tôi tuyệt đối không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào do tự ý dùng thuốc dựa vào thông tin trên thuocvasuckhoe.com gây ra.