Cao huyết áp

Cao huyết áp

Đại cương

Huyết áp tức là áp lực của máu. Hệ thống tim mạch của người gồm có tim nhiệm vụ bơm máu và các ống dẫn máu đến khắp nơi trong cơ thể gọi là mạch máu gồm có các động mạch, mao mạch và tĩnh mạch. Khi máu di chuyển trong mạch máu (chủ yếu trong động mạch), thì sức ép của máu tác động lên thành mạch máu tạo nên một áp suất gọi là huyết áp. Nó là kết quả của sự điều hợp giữa sự co bóp của tim (gồm lực co bóp và số lần co bóp), lượng máu và sức cản của các mạch máu trong cơ thể.

Huyết áp = Cung lượng tim X Sức cản mạch máu

(Cung lượng tim = lượng máu bơm một lần tim co bóp X số lần co bóp trong một phút).

Số huyết áp: Con số đầu tiên mà máy đo huyết áp cho thấy gọi là huyết áp tâm thu. Đây là áp suất trong mạch máu khi trái tim co bóp (hoạt động). Nó biểu hiệu áp suất cực đại có thể có được trong lòng động mạch.

Con số sau mà máy đo huyết áp cho thấy gọi là huyết áp tâm trương. Đây là áp suất trong mạch máu khi trái tim dãn ra (nghỉ ngơi) giữa hai lần co bóp. Nó biểu hiệu áp suất cực tiểu trong lòng động mạch.

Áp suất trong động mạch này thay đổi tùy lúc, cao trong lúc hoạt động, stress, và thấp trong khi nghỉ ngơi hay ngủ.

“Cao huyết áp - Hypertension”: khi con số trên lớn hơn 140 và/hoặc con số dưới lớn hơn 90 (đo ít nhất 3 lần cao trong 3 dịp khác nhau).

”Tiền cao huyết áp - Pre-Hypertension”: con số trên trong khoảng 120 -139 hay con số dưới trong khoảng 80 - 89. Tiền cao huyết áp sau này có thể trở thành bệnh cao huyết áp.

Phân loại

Khoảng 5% bệnh nhân cao huyết áp là hậu quả của một bệnh khác ở trong cơ thể gây ra, còn gọi là bệnh cao huyết áp thứ phát. Ở những bệnh nhân này, nếu loại trừ được nguyên nhân, huyết áp sẽ hạ xuống và bệnh nhân sẽ khỏi bệnh. Phần còn lại khoảng 95% bệnh nhân cao huyết áp là dạng cao huyết áp nguyên phát. Dạng cao huyết áp này một khi đã có thì không hết hoàn toàn được và thường không có triệu chứng nào cả cho đến khi xuất hiện biến chứng như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não hay các biến chứng khác.

Trong số những bệnh nhân cao huyết áp dù ở dạng bệnh nguyên hay thứ phát có một số nhỏ khoảng 5% bệnh nhân có xảy ra tình trạng những cơn cao huyết áp ác tính -malignant hypertension (nó cũng có thể xảy ra ở người bình thường tuy rằng rất hiếm).

Trong cơn, áp lực máu tăng rất cao và nếu không can thiệp thì sẽ dẫn tới tử vong sau 1 hay 2 năm. Triệu chứng lâm sàng biểu hiệu bằng huyết áp tâm thu trên 200 mmHg, huyết áp tâm trương trên 120 mmHg, nhức đầu, ói mửa, rối loạn thị giác như xuất hiện những điểm tối đen khi nhìn. Trong những cơn cao huyết áp ác tính này, bệnh nhân có thể bị bất tỉnh hay co giật. Bệnh nhân tiểu ra máu, tiểu ra đản bạch protein và tiến triển đến suy thận. Cơn cao huyết áp ác tính này cần phải được điều trị cấp cứu trước khi những tổn thương ở thận không còn hồi phục lại bình thường được nữa.

Bệnh cao huyết áp vô căn hay nguyên phát

Trong loại bệnh này, ảnh hưởng đến huyết áp gồm có yếu tố di truyền (cha mẹ truyền cho con cháu), môi trường (ít vận động), và chủng tộc (người da đen dễ bị hơn người da trắng). Những yếu tố quan trọng này lại thay đổi theo tuổi tác (dễ xảy ra sau 35 tuổi), phái tính ((nam dễ bị hơn nữ)), chỉ số khối lượng cơ thể BMI (béo mập thì dễ bị), và chế độ ăn, nhất là muối sodium. Cao huyết áp vô căn là kết quả giữa tác động qua lại của di truyền và môi trường gây ảnh hưởng trên tim, kháng lực mạch máu hay cả hai.

Giảm bài tiết sodium ở thận có lẽ là chìa khoá khởi đầu cho bệnh cao huyết áp vô căn và cũng là điều xảy ra trong những dạng cao huyết áp khác. Muối sodium cao trong máu đưa đến gia tăng thể tích máu, tăng cung lượng tim, co mạch máu, từ đó gia tăng huyết áp. Ban đầu, khi cảm nhận được mức độ áp huyết máu cao hơn bình thường này, cơ thể sẽ thải một số lượng muối sodium qua thận để cân bằng với lượng gia tăng (phần lớn là do hấp thụ qua thức ăn). Nhưng nếu bệnh nhân ăn mặn (nhiều sodium) liên tục, cơ thể sẽ tiến tới một tình trạng cân bằng mới trong việc bài tiết sodium (giảm đi) với tình trạng huyết áp cao (hơn lúc trước) thường xuyên mà không giảm.

Một lý giải khác là ảnh hưởng của sự làm hẹp lòng mạch máu (do co mạch - như stress- hay thành mạch máu dầy lên - như bệnh tiểu đường) gây tình trạng tăng sức cản của mạch máu khiến huyết áp tăng lên. Nếu hiện tượng này xảy ra thường xuyên, cấu trúc của thành mạch máu thay đổi khiến nó không còn dãn được về bình thường nữa. Lúc này, tim phải co bóp mạnh hơn mới đẩy máu đi được và bệnh nhân đã đi vào tình trạng cao huyết áp thường xuyên.

Tóm lại, bệnh cao huyết áp nguyên phát là một tình trạng phức tạp do nhiều yếu tố góp phần tạo nên:

- Nó là kết quả của yếu tố di truyền kết hợp với môi trường. Những yếu tố môi trường như stress và lượng muối ăn gây ảnh hưởng khác nhau đến việc điều hòa huyết áp ở những người có sẵn yếu tố di truyền.

- Trong việc duy trì tình trạng cao huyết áp có sự tham gia của thận, vì vai trò của nó là loại bỏ muối và nước

© Copy right 2008 thuocvasuckhoe.com

Design By: ASEAN Việt Nam

Các thông tin trên thuocvasuckhoe.com chỉ mang tính chất tham khảo, khi dùng thuốc phải tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn của Bác sỹ.
Chúng tôi tuyệt đối không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào do tự ý dùng thuốc dựa vào thông tin trên thuocvasuckhoe.com gây ra.